[Tóm tắt] Già sao cho sướng?

Sự kiện diễn ra vào ngày 06/06/2026 với sự tham gia của hơn 50 người tham dự từ nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Cùng với nhóm nghiên cứu đến từ VCHPR, FSA-Legal, FSA-Social Works, FUSE để thảo luận về Các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe, theo khung của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), áp dụng cho tình huống tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Được đặt tên theo cuốn sách của Bs. Đỗ Hồng Ngọc, tọa đàm “Già Sao Cho Sướng?” được tổ chức nhằm tạo không gian cho người tham gia từ nhiều ngành nghề cùng phân tích bối cảnh già hóa tại TP.HCM qua lăng kính Các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe- Social Determinants of Health (SDoH) và thảo luận các hướng can thiệp.

I. BỐI CẢNH

TP.HCM đồng thời là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước và đô thị có tốc độ già hóa dân số cao nhất Việt Nam. Sự kết hợp này đặt ra yêu cầu đáng kể đối với hệ thống an sinh, y tế, hạ tầng và chính sách xã hội – vốn chưa được thiết kế đầy đủ để đáp ứng nhu cầu của một dân số đang già hóa nhanh.

76,46[1,2] Tuổi thọ TB TP.HCM (năm) Cả nước: 74,50 tuổi12,05%[3] Dân số ≥60 tuổi (cuối 2023) = 1.310.323 người1,39[6] Mức sinh TFR TP.HCM Thấp nhất cả nước

Theo dự báo, tỷ lệ người cao tuổi tại TP.HCM sẽ đạt khoảng 20% dân số vào năm 2030 – tương đương 1,8 triệu người[4], trong khi hiện tại toàn thành phố có khoảng 25–30 cơ sở chăm sóc dài hạn[5] cho người cao tuổi. Khoảng cách này được xác định là một trong những vấn đề cần ưu tiên trong bối cảnh hoạch định chính sách.

II. KHUNG LÝ THUYẾT: CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI QUYẾT ĐỊNH SỨC KHỎE (SDoH)

Mở đầu sự kiện, NCS.ThS. Nguyễn Thị Lan Anh – Atlantic Fellow về Công bằng Sức khỏe tại Đông Nam Á – giới thiệu khung SDoH làm nền tảng tư duy cho các phiên thảo luận.

Định nghĩa

Các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe (SDoH) là: Những hoàn cảnh mà con người sinh ra, lớn lên, sinh sống, làm việc và già đi. Cốt lõi của những yếu tố này được xác định bởi mức độ khả năng tiếp cận quyền lực, tiền bạc và các nguồn lực của cá nhân và nhóm xã hội.
– WHO & Commission on Social Determinants of Health (CSDH), 2008

Khung SDoH phân định hai cấp độ tác động:

  • Các yếu tố cấu trúc: Nguyên nhân gốc rễ – các quy tắc chính thức và phi chính thức của hệ thống kinh tế, thể chế, chính sách, văn hóa và giá trị xã hội, bao gồm: phân biệt giai cấp, phân biệt giới tính, định kiến tuổi tác và kỳ thị người khuyết tật.
  • Các yếu tố trung gian / Điều kiện sống hàng ngày: Hệ quả của yếu tố cấu trúc – tạo ra sự khác biệt về phơi nhiễm và mức độ dễ bị tổn thương, bao gồm: điều kiện vật chất (nhà ở, thực phẩm), yếu tố tâm lý xã hội (căng thẳng, cô lập), hành vi sức khỏe và khả năng tiếp cận hệ thống y tế.

Theo khung SDoH, ~20% kết quả sức khỏe được xác định bởi yếu tố lâm sàng và di truyền[7], trong khi ~80% còn lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội[7]. Hàm ý là các can thiệp y tế đơn thuần có phạm vi tác động hạn chế nếu thiếu chính sách giải quyết các yếu tố xã hội nền tảng.

5 Trụ Cột SDoH trong Bối Cảnh Già Hóa

Năm nhóm thảo luận được tổ chức theo 5 trụ cột SDoH, mỗi nhóm do một thành viên Nhóm nghiên cứu điều phối:

Trụ cột SDoHDữ liệu bối cảnh TP.HCMDiễn giả nhóm
Ổn định Kinh tế65,6% lao động phi chính thức[8]; 15–20% tham gia BHXH tự nguyện[9]ThS. Đặng Thị Phi Hương Giang
Tiếp cận Giáo dục67% người cao tuổi không sử dụng smartphone[10]; tỷ lệ mù chữ chức năng cao ở nhóm người cao tuổi >65 tuổiNCS. Ths. Nguyễn Thị Lan Anh
Tiếp cận Dịch vụ Y tếBao phủ BHYT 90–93%[11]; chi từ túi cá nhân chiếm 39,4% tổng chi y tế[12]ThS. Nguyễn Quỳnh Anh
Môi trường sống và điều kiện xây dựngPM2.5 trung bình 35,4 µg/m³[13] (ngưỡng WHO: 5 µg/m³)ThS. Huỳnh Ngọc Tấn
Bối cảnh Xã hội và Cộng đồng13,74% người cao tuổi sống một mình (cả nước, 2019)[14]ThS. Phạm Trường Sơn

III. 5 VẤN ĐỀ ĐƯỢC XÁC ĐỊNH ƯU TIÊN CAO

Sau phiên thảo luận nhóm và bỏ phiếu ưu tiên, năm vấn đề sau được xác định là cấp bách nhất theo đánh giá của các đại biểu:

1. Rào cản tiếp cận giáo dục và học tập suốt đời đối với người cao tuổi

Người cao tuổi gặp khó khăn trong việc tiếp cận các cơ hội học tập khi xã hội số hóa nhanh. Hiện chưa có luật hay chương trình mục tiêu quốc gia về học tập suốt đời dành riêng cho người cao tuổi, chưa có chương trình hỗ trợ chuyển đổi nghề trước nghỉ hưu, và chưa có cơ chế khuyến khích các tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục cho người cao tuổi. 67% người cao tuổi tại TP.HCM không sử dụng smartphone[10], tạo ra khoảng cách đáng kể trong tiếp cận dịch vụ y tế trực tuyến, hành chính công và thông tin xã hội.
Trụ cột SDoH: Tiếp cận Giáo dục & chất lượng

2. Triển khai mô hình Câu lạc bộ Liên Thế Hệ Tự Giúp Nhau chưa đồng đều

Mô hình “Câu lạc bộ Liên Thế Hệ Tự Giúp Nhau” – nơi các thế hệ hỗ trợ nhau trong cộng đồng – đã được triển khai nhưng phạm vi và tính bền vững còn hạn chế. Các yếu tố chính được nêu: thiếu tài chính ổn định, thiếu không gian sinh hoạt cộng đồng, và thiếu nhân sự được đào tạo. Bối cảnh: 13,74% người cao tuổi cả nước[14] sống một mình theo Tổng điều tra 2019, trong khi đô thị hóa nhanh tiếp tục làm thay đổi cấu trúc mạng lưới hỗ trợ gia đình.
→ Trụ cột SDoH: Bối cảnh Xã hội và Cộng đồng

3. Thiếu kênh thông tin y tế chính thống dành cho người cao tuổi

Người cao tuổi hiện tiếp cận thông tin y tế qua nhiều kênh không chính thức, ví dụ: quảng cáo thực phẩm chức năng chưa được kiểm chứng, nội dung trên mạng xã hội và các bài thuốc dân gian. Chưa có kênh thông tin sức khỏe quốc gia được thiết kế phù hợp cho người cao tuổi về nội dung lẫn hình thức tiếp cận. Tình trạng này có thể dẫn đến tự điều trị không đúng hướng và chi phí y tế không cần thiết cho cả người dùng lẫn hệ thống.
→ Trụ cột SDoH: Tiếp cận Dịch vụ Y tế

4. Hạ tầng đô thị chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người cao tuổi và người khuyết tật

Thiết kế hạ tầng đô thị hiện tại – bao gồm vỉa hè, hẻm ngõ, phương tiện giao thông công cộng và không gian công cộng – chưa được điều chỉnh đầy đủ theo tiêu chuẩn tiếp cận phổ quát (Universal Design). Điều này ảnh hưởng đến khả năng di chuyển độc lập của người cao tuổi có hạn chế vận động, bao gồm việc tiếp cận các cơ sở y tế. PM2.5 trung bình 35,4 µg/m³[13] – gấp 7 lần ngưỡng an toàn của WHO (5 µg/m³) – cũng được xác định là yếu tố nguy cơ đáng kể đối với sức khỏe hô hấp và tim mạch của người cao tuổi.
→ Trụ cột SDoH: Môi trường sống và điều kiện xây dựng

5. An sinh thu nhập chưa đủ bao phủ nhóm lao động phi chính thức cao tuổi

Hơn 60% lao động đô thị[8] làm việc trong khu vực phi chính thức – không có đóng góp BHXH, do đó không tích lũy được quyền hưởng lương hưu. Mức trợ cấp xã hội hiện hành là 650.000-1.300.000 đồng/tháng[15] dành cho người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu. Khi thu nhập không đủ trang trải chi phí y tế, người cao tuổi có thể trì hoãn điều trị, dẫn đến tình trạng sức khỏe xấu hơn và chi phí điều trị cao hơn về sau.
→ Trụ cột SDoH: Ổn định Kinh tế

IV. CÁC ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH THEO TỪNG YẾU TỐ

4.1. Giáo Dục và Tiếp Cận Thông Tin

  • Nâng cao nhận thức: Người tham dự đề xuất chiến dịch truyền thông nhằm thay đổi quan niệm về giới hạn độ tuổi học tập, đặt người cao tuổi làm đối tượng thụ hưởng chính thức của chính sách giáo dục người lớn.
  • Hỗ trợ tiếp cận: Miễn giảm học phí cho người cao tuổi tại cơ sở giáo dục công lập; trợ cấp thiết bị số (tablet, smartphone) cho người cao tuổi thuộc hộ cận nghèo.
  • Phát triển nguồn cung: Cơ chế khuyến khích (ưu đãi thuế, đơn giản hóa cấp phép) cho các tổ chức và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giáo dục cho người cao tuổi.
  • Chuyển đổi nghề nghiệp: Chương trình đào tạo chuyển giao (transition) trước khi nghỉ hưu, hỗ trợ người cao tuổi chuyển sang các vai trò phù hợp với thể lực.
  • Tái tham gia lao động: Cơ chế khuyến khích sử dụng chuyên gia cao tuổi sau đào tạo, góp phần giảm cô lập xã hội và tận dụng kinh nghiệm tích lũy.

4.2. Dịch Vụ Y Tế, Theo Chuỗi Chăm Sóc Liên Tục (WHO)

Các đề xuất từ nhóm Y tế được tổ chức theo sáu nhóm dịch vụ y tế của khung WHO Integrated People-Centred Health Services (IPCHS, 2016):

  • Bước 1 – Phòng ngừa & Nâng cao sức khỏe: Xây dựng kênh thông tin y tế quốc gia chính thống, được thiết kế phù hợp với khả năng tiếp cận của người cao tuổi.
  • Bước 2 – Chẩn đoán sớm: Triển khai bệnh án điện tử liên thông kết hợp AI tầm soát nguy cơ.
  • Bước 3 – Điều trị: Chuẩn hóa và nhân rộng mô hình bác sĩ gia đình; điều chỉnh phân tuyến điều trị nhằm giảm tập trung tại tuyến cuối; ứng dụng telemedicine theo Luật KCB sửa đổi 2023[17].
  • Bước 4 – Quản lý bệnh mãn tính: Phổ cập thiết bị theo dõi sức khỏe từ xa (wearable) cho người cao tuổi mắc bệnh mãn tính. Áp dụng mô hình quản lý ca bệnh (case management) tại trạm y tế phường.
  • Bước 5 – Phục hồi chức năng: Phát triển các trung tâm phục hồi chức năng cộng đồng gắn với hệ thống trạm y tế, giảm phụ thuộc vào cơ sở tuyến trên.
  • Bước 6 – Chăm sóc giảm nhẹ & Cuối đời: Mở rộng phạm vi chi trả BHYT (cả công và tư) cho dịch vụ chăm sóc dài hạn. Hoàn thiện khung pháp lý và tài chính cho Đề án Dưỡng lão 2025–2030[18].

4.3. Môi Trường Xã Hội và Cộng Đồng

  • Kết nối chuyên gia cao tuổi: Xây dựng cơ chế kết nối người cao tuổi có chuyên môn với các tổ chức và cộng đồng có nhu cầu, tận dụng kinh nghiệm tích lũy.
  • Chuyên nghiệp hóa lực lượng chăm sóc (caregivers): Thiết lập khung đào tạo, chứng chỉ hành nghề, cơ chế lương thưởng và hỗ trợ tâm lý cho người chăm sóc người cao tuổi.
  • Giảm cô lập xã hội: Ưu đãi giao thông công cộng cho người cao tuổi; tạo cơ chế kết nối người cao tuổi với các hoạt động văn hóa và xã hội tại địa phương.
  • Mạng lưới liên thế hệ: Cấp ngân sách ổn định cho Câu lạc bộ Liên Thế Hệ Tự Giúp Nhau; nghiên cứu thí điểm mô hình co-living liên thế hệ tại các khu chung cư xã hội.

4.4. Môi trường sống và điều kiện xây dựng

  • Tiêu chuẩn thiết kế phổ quát: Đưa các tiêu chí Universal Design vào quy chuẩn xây dựng bắt buộc; tăng cường kiểm tra thực thi.
  • Không gian xanh: Chính sách bảo tồn và phát triển mảng xanh đô thị; cơ chế ràng buộc không gian công cộng trong các dự án xây dựng mới.
  • Giao thông công cộng: Cải tạo phương tiện công cộng đáp ứng tiêu chuẩn tiếp cận; ưu tiên kết nối vỉa hè liên thông tại các khu vực tập trung người cao tuổi.
  • Kiểm soát ô nhiễm không khí: Tăng mật độ trạm quan trắc PM2.5 và công khai dữ liệu thời gian thực; xây dựng lộ trình cụ thể tiếp cận ngưỡng WHO ≤15 µg/m³.[13]

4.5. Ổn Định Kinh Tế

  • Mở rộng bao phủ BHXH: Thiết kế cơ chế đóng BHXH tự nguyện linh hoạt, phù hợp với đặc điểm thu nhập không ổn định của lao động phi chính thức[9].
  • Điều chỉnh ngưỡng trợ cấp xã hội: Xem xét hạ ngưỡng nhận hưu trí xã hội từ 80 tuổi xuống 75 tuổi, theo kiến nghị đang được thảo luận tại Quốc hội[15].
  • Kinh tế phi chính thức cho người cao tuổi: Tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục tham gia kinh tế nhỏ, cung cấp dịch vụ nhẹ nhàng trong khuôn khổ pháp lý rõ ràng.
  • Chính sách nhà ở: Hỗ trợ nhà ở cho người lao động trẻ nhằm giảm áp lực tài chính, tạo điều kiện chăm sóc cha mẹ cao tuổi.

V. THẢO LUẬN VỀ TƯƠNG LAI – TP.HCM ĐẾN NĂM 2045

Phiên cuối hướng đến việc nhận diện các yếu tố dài hạn có thể định hình bức tranh già hóa tại TP.HCM. Ba câu hỏi mở được đặt ra đã có những yếu tố nhận diện như sau:

5.1. Yếu Tố Có Thể Làm Tăng Gánh Nặng Già Hóa cho TP.HCM


Giảm không gian xanh và ô nhiễm không khí: Đô thị hóa nhanh thu hẹp mảng xanh; mức PM2.5 cao có thể góp phần tăng tỷ lệ mắc bệnh mãn tính ở người cao tuổi và áp lực chi phí y tế[13].
Áp lực tài chính của thế hệ trung niên: Chi phí nhà ở và sinh hoạt cao tại TP.HCM tạo áp lực cho nhóm đang đồng thời nuôi con và chăm sóc cha mẹ già (“sandwich generation”).
Người cao tuổi nhập cư thiếu mạng lưới xã hội: người cao tuổi theo con đến thành phố thường mất đi các kết nối xã hội và không gian sinh hoạt quen thuộc, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý và tinh thần.
Thay đổi thói quen dinh dưỡng: Xu hướng tiêu thụ thực phẩm chế biến sẵn và đồ uống nhiều đường có thể làm tăng nguy cơ bệnh chuyển hóa ở thế hệ người cao tuổi trong tương lai.

5.2. Yếu Tố Có Thể Giúp Giảm Gánh Nặng Già Hóa cho TP.HCM


Ứng dụng công nghệ trong chăm sóc người cao tuổi: Công nghệ cảm biến, thiết bị theo dõi sức khỏe từ xa và nền tảng mua sắm có tiềm năng giảm chi phí sinh hoạt và tăng khả năng sống độc lập của người cao tuổi.
Công cụ tài chính đa dạng hơn: Quỹ hưu trí linh hoạt, bảo hiểm nhóm chia sẻ rủi ro và các công cụ đầu tư dài hạn có thể bổ sung cho các hình thức an sinh truyền thống.
Mô hình chăm sóc cộng đồng phi chính thức: Các tổ chăm sóc tương trợ trong khu dân cư có tiềm năng phân tán gánh nặng chăm sóc và tạo kết nối xã hội cho người cao tuổi.
Sau sáp nhập, TP.HCM có thể có thêm nguồn lực trẻ tuổi hơn từ các tỉnh khác.

5.3. Điều Kiện Cần Thiết để TP.HCM chuẩn bị cho dân số già hóa

  • Nhà ở hợp lý: Chính sách nhà ở tạo điều kiện để người lao động trẻ có thể an cư và duy trì khả năng chăm sóc cha mẹ.
  • Cơ hội tiếp tục tham gia xã hội: Không gian và cơ chế để người cao tuổi tiếp tục đóng góp theo khả năng – truyền nghề, tư vấn, dạy học tự nguyện, kinh doanh nhỏ.
  • Y học dự phòng và lối sống: Can thiệp vào yếu tố nguy cơ thông qua chính sách dinh dưỡng, kiểm soát thực phẩm và các biện pháp kinh tế hành vi.
  • Công nhận đa dạng cấu trúc gia đình: Chính sách an sinh được thiết kế bao phủ nhiều hình thức gia đình khác nhau, không chỉ mô hình hạt nhân truyền thống.
  • Chuyên nghiệp hóa lực lượng chăm sóc: Xây dựng hệ thống caregiver chuyên nghiệp – được đào tạo, có chứng chỉ hành nghề và được trả thù lao xứng đáng.

VI. TỔNG HỢP VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH

Các ý kiến trong buổi tọa đàm phản ánh nhận thức chung rằng già hóa dân số là vấn đề đa ngành, đòi hỏi phản ứng chính sách phối hợp giữa quy hoạch hạ tầng, chính sách lao động, hệ thống giáo dục, y tế và văn hóa cộng đồng. Dữ liệu cho thấy hệ thống y tế Việt Nam hiện chi 73% tổng chi y tế tại bệnh viện[19], trong khi các dịch vụ phòng ngừa, quản lý bệnh mãn tính và chăm sóc dài hạn còn hạn chế.

Ba khoảng trống chính sách được xác định bao gồm:
Bao phủ an sinh: Tỷ lệ lao động phi chính thức cao (>60%[8]) và tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện thấp (15–20%[9]) tạo ra nhóm người cao tuổi trong tương lai có ít nguồn lực tài chính dự phòng.
Phân bổ dịch vụ y tế: Trọng tâm đầu tư hiện tại vào điều trị (Bước 3[19]) so với phòng ngừa (Bước 1) và chăm sóc dài hạn (Bước 6). Các đại biểu tham dự đề xuất xem xét lại phân bổ ngân sách y tế theo hướng cân bằng hơn.
Hạ tầng kết nối xã hội: Môi trường đô thị và mạng lưới thông tin chưa hỗ trợ đầy đủ việc duy trì kết nối xã hội của người cao tuổi, đặc biệt nhóm có hạn chế vận động hoặc không sử dụng công nghệ số.

“Già sao cho sướng?” – câu hỏi đặt tên cho tọa đàm phản ánh một nhu cầu cụ thể và cấp thiết: đặt người cao tuổi vào trung tâm của các quyết định chính sách có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Buổi tọa đàm ghi nhận sự đồng thuận rộng rãi của các đại biểu tham dự cho rằng chất lượng cuộc sống trong tuổi già phụ thuộc vào những lựa chọn chính sách được thực hiện ngay hôm nay – trong quy hoạch đô thị, hệ thống an sinh, giáo dục và y tế.


NGUỒN DỮ LIỆU VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO

Số trong ngoặc vuông [n] trong văn bản tương ứng với các nguồn dưới đây.

[1]  Chi cục Dân số-KHHGĐ TP.HCM (ông Phạm Chánh Trung). Tuổi thọ trung bình TP.HCM 2023. Phát biểu 12/2024, đăng trên Tuổi Trẻ & dansohcm.gov.vn.

[2]  GSO – Tổng cục Thống kê. Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2024. Tuổi thọ trung bình cả nước 74,50 tuổi.

[3]  Bộ Công an – Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; Chi cục Dân số-KHHGĐ TP.HCM 12/2024. Số người cao tuổi ≥60 tuổi TP.HCM = 1.310.323 người (cuối 2023).

[4]  Chi cục Dân số-KHHGĐ TP.HCM; Sở Y tế TP.HCM – Hội nghị giữa kỳ 7/2024. Dự báo người cao tuổi đạt ~20% dân số = 1,8 triệu người vào 2030.

[5]  Chi cục Dân số-KHHGĐ TP.HCM; Tạp chí Điều dưỡng 12/2025. Số cơ sở bảo trợ xã hội phục vụ người cao tuổi tại TP.HCM: 25–30 cơ sở.

[6]  Chi cục Dân số-KHHGĐ TP.HCM; Cục Dân số, Bộ Y tế (vnpa.moh.gov.vn). Mức sinh TFR TP.HCM: ~1,39–1,5 (2022) – thấp nhất cả nước.

[7]  McGinnis JM, Williams-Russo P, Knickman JR. The case for more active policy attention to health promotion. Health Affairs, 2002;21(2):78-93. Dẫn qua: WHO & CSDH. Closing the Gap in a Generation. Geneva, 2008.

[8]  GSO – Tổng cục Thống kê. Điều tra Lao động Việc làm 2023. Tỷ lệ lao động phi chính thức cả nước: 65,6%.

[9]  Bộ LĐ-TB&XH. Báo cáo an sinh xã hội 2023. Tỷ lệ lao động phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện: 15–20%.

[10]  VNPT – Báo cáo chuyển đổi số Việt Nam 2023; Sở TT&TT TP.HCM. Tỷ lệ người cao tuổi không sử dụng smartphone: ~67%.

[11]  BHXH Việt Nam – Báo cáo bảo hiểm y tế 2023 (baohiemxahoi.gov.vn). Bao phủ BHYT toàn quốc: 93,35%; TP.HCM: ~90–93%.

[12]  P4H Network. Viet Nam Country Overview (p4h.world), cập nhật 2024; VietnamPlus 6/2024. Chi tiêu từ túi cá nhân / tổng chi y tế: 39,4% (2023).

[13]  Sở Tài nguyên & Môi trường TP.HCM. Báo cáo chất lượng không khí 2023. PM2.5 trung bình: 35,4 µg/m³ (ngưỡng WHO: 5 µg/m³).

[14]  UNFPA Việt Nam & GSO. Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam – Phân tích từ Tổng điều tra dân số 2019. Hà Nội, 2021. Tỷ lệ người cao tuổi sống một mình: 13,74%.

[15]  Luật BHXH 2015 (Luật số 58/2014/QH13) và Nghị định 20/2021/NĐ-CP. Mức trợ cấp xã hội cho người cao tuổi ≥80 tuổi không có lương hưu: 270.000–360.000 đồng/tháng. Kiến nghị hạ ngưỡng xuống 75 tuổi: Báo cáo thẩm tra Luật người cao tuổi sửa đổi 2024, Ủy ban Xã hội Quốc hội.

[16]  UBND TP.HCM. Quyết định 11/2024 – Kế hoạch phát triển hệ thống y tế TP.HCM 2024–2030. Mục tiêu: mỗi người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ ≥1 lần/năm vào 2030.

[17]  Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh sửa đổi 2023 (Luật số 15/2023/QH15). Điều khoản về telemedicine và y tế số, có hiệu lực từ 1/1/2024.

[18]  Chi cục Dân số-KHHGĐ TP.HCM; UBND TP.HCM. Đề án Phát triển hệ thống dưỡng lão và chăm sóc dài hạn người cao tuổi tại TP.HCM 2025–2030 (đang triển khai). Tạp chí Điều dưỡng 12/2025.

[19]  The Lancet Regional Health – Western Pacific. A robust health system to achieve universal health coverage in Vietnam. Vol. 35, 2023. 73% tổng chi y tế tập trung tại bệnh viện.